Vitamin E là một trong những vi chất quan trọng có tác dụng làm đẹp, giữ ẩm cho da và chống lão hóa cho cơ thể. Suckhoegiadinh365 qua bài viết này sẽ làm rõ về vai trò của Vitamin E với cơ thể

Vitamin E là vitamin tan trong dầu, nó có mặt trong nhiều loại thực phẩm. Trong tự nhiên Vitamin E tồn tại ở 8 dạng là alpha-, beta-, gamma-, delta-tocopherol và alpha-, beta-, gamma-, delta-tocotrienol. Mỗi dạng có mức độ hoạt động sinh học khác nhau. Alpha-tocopherol là dạng duy nhất được nhận biết là đáp ứng nhu cầu  của con người.

Vitamin E được biết đến với vai trò nổi trội là các chất chống oxy hóa. Nó bảo vệ tế bào tránh các tác động bất lợi của gốc tự do. Các gốc tự do là nguyên nhân gây hỏng tế bào, góp phần làm tiến triển các bệnh tim mạch và ung thư. Các gốc tự do sinh ra trong quá trình chuyển hóa thức ăn trong cơ thể thành năng lượng và nó cũng được tiếp nhận từ môi trường bên ngoài như khói thuốc lá, ô nhiễm không khí, tia cực tím của mặt trời.

Vitamin E tăng cường hệ thống miễn dịch giúp cơ thể chống lại vi trùng. Vitamin E cũng giúp mở rộng mạch máu và chống không cho các tế bào máu bám dính vào lòng mạch.

Vitamin E có trong các thực phẩm như dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu mầm lúa mì và rau bina, cà chua, kiwi, xoài, sầu riêng. D – alpha tocopherol là dạng có trong các thực phẩm tự nhiên và có sinh khả dụng cao hơn L-alpha tocopherol.

Vai trò của Vitamin E

Vai trò của Vitamin E

Thiếu vitamin E ít gặp ở những người bình thường khỏe mạnh. Vitamin E cần chất béo để hấp thu trong đường tiêu hóa, vì vậy thiếu vitamin E thường liên quan đến bệnh mà các chất béo không được hấp thu.

Thiếu Vitamin E có thể gây tổn thương thần kinh và cơ, gây mất cảm giác ở cánh tay và chân, mất kiểm soát vận động cơ thể, suy nhược cơ, gặp các vấn đề về thị giác và làm suy yếu hệ miễn dịch.

Vitamin E bảo vệ tim mạch. Vitamin E giúp ngăn ngừa hoặc làm chậm các bệnh mạch vành bằng nhiều tác động khác nhau. Nó ức chế quá trình oxy hóa của lipoprotein mật độ thấp (LDL – một lọai cholesterol không có ích) làm giảm chứng xơ vữa động mạch. Vitamin E giúp ngăn ngừa sự hình thành các cục máu đông, nguyên nhân gây ra huyết khối, tắc mạch, đau tim.

Vitamin E làm giảm nguy cơ ung thư. Vitamin E bảo vệ tế bào bằng việc chống lại sự oxy hóa của các gốc tự do. Các gốc tự do không được khống chế là nguyên nhân gây ung thư. Vitamin E cũng ngăn chặn sự hình thành các chất nitrosamin là chất gây ung thư từ các chất nitrit có trong thực phẩm. Bảo vệ cơ thể chống ung thư bằng cách tăng cường miễn dịch.

Vitamin E giúp bảo vệ mắt. Sự thoái hóa võng mạc liên quan đến tuổi tác và đục thủy tinh thể là nguyên nhân phổ biến gây ra mất thị lực ở người cao tuổi. Nguyên nhân của bệnh này thường không xác định được nhưng những tác động của oxy hóa cũng được coi là quan trọng.

Bổ sung liều cao Vitamin E cũng có thể gây hại. Nó làm tăng nguy cơ chảy máu do hạn chế hình thành huyết khối, xuất huyết não có thể xảy ra.

Các khuyến cáo về nhu cầu Vitamin E hàng ngày dưới đây của cơ quan y tế là thông tin quan trọng để người tiêu dùng tham khảo.

Nhu cầu Vitamin E hàng ngày theo khuyến cáo của cơ quan dinh dưỡng và thực phẩm quốc gia Hoa Kỳ.

Giai đoạn Lượng Vitamin E được đề nghị
Sinh ra đến 6 tháng 4 mg (6 IU)
Trẻ sơ sinh 7-12 tháng tuổi 5 mg (7,5 IU)
Trẻ 1-3 tuổi 6 mg (9 IU)
Trẻ em từ 4-8 tuổi 7 mg (10,4 IU)
Trẻ 9-13 tuổi 11 mg (16,4 IU)
14-18 tuổi 15 mg (22,4 IU)
Người lớn 15 mg (22,4 IU)
Thiếu niên và phụ nữ mang thai 15 mg (22,4 IU)
Cho con bú sữa mẹ và phụ nữ 19 mg (28,4 IU

 

Nhu cầu Vitamin E khuyến nghị cho người Việt Nam. Thông tư số 43/2014/TT-BYT

Phân loại Lứa tuổi (năm) Vit. E (mg -TE/ngày)
Trẻ em < 1 tuổi 0 – 6 tháng 2,7 (i)
7 – 11 tháng 2,7 (i)
Trẻ em 1 – 3 tuổi 5 (k)
4 – 6 tuổi 5 (k)
7 – 9 tuổi 7 (k)
Nam thiếu niên 10 -18 tuổi (nam) 10
Nữ thiếu niên 10 – 18 tuổi (nữ) 7,5
Người trưởng thành 19 – 65 tuổi (nam) 10
19 – 65 tuổi hành kinh 7,5
50 – 65 tuổi mãn kinh 7,5
Người cao tuổi > 65 tuổi (nam) 10
> 65 tuổi (nữ) 7,5
Phụ nữ có thai   i
Phụ nữ cho con bú   i
  1. h) Các số liệu không đủ để xây dựng lượng ăn khuyến cáo bởi vậy phải thay thế lượng ăn vào chấp nhận được. Giá trị này là ước tính sát nhất về nhu cầu, dựa trên lượng ăn vào chấp nhận được hiện hành để cung cấp các chức năng đã biết đến của loại vitamin này.

(i) Không có bất cứ sự khác nhau về nhu cầu vitamin E giữa bà mẹ có thai và cho con bú với nhóm người trưởng thành. Tăng năng lượng ăn vào đối với bà mẹ có thai và cho con bú để đáp ứng cho việc tăng nhu cầu năng lượng cho sự phát triển của trẻ và tổng hợp sữa. Các sản phẩm thay thế sữa mẹ không được chứa ít hơn 0,3 mg ỏ – tocopherol qui đổi (TE)/100ml sữa đã pha và không lớn hơn 0,4 mg TE/g PUFA. Lượng Vitamin E trong sữa mẹ gần như không đổi ở mức 2,7 mg trong 850 ml sữa.

(k) Các giá trị dựa trên sự cân đối với lượng ăn vào chấp nhận được cho người trưởng thành

Qua bài viết. Mong độc giả có một cái nhìn tổng quát hơn về vai trò của vitamin e với cơ thể