Gần 60.000 trường hợp thừa Vitamin gây ngộ độc đã được báo cáo, theo thống kê của Trung tâm kiểm soát ngộ độc Hoa Kỳ. Một khảo sát khác cho thấy trong khoảng thời gian từ 2003 đến 2006, 33% số trẻ từ 1 tuổi trở lên ở nước này sử dụng các sản phẩm Vitamin tổng hợp, liệu trình kéo dài ít nhất 1 tháng.

Năm 2009, 56% người tiêu dùng Mỹ cho biết họ thường xuyên sử dụng các sản phẩm bổ sung Vitamin, và 44% nói rằng họ dùng chúng hàng ngày.

Do có thể tích lũy trong cơ thể, các loại Vitamin tan trong dầu có khả năng gây thừa Vitamin cao hơn gấp nhiều lần so với những loại tan trong nước, trong đó các sản phẩm bổ sung Vitamin có chứa sắt là nguy hiểm nhất, đặc biệt là khi bị ngộ độc cấp tính.

Một số loại Vitamin khi thừa nguy hiểm không kém khi bị thiếu

Thiếu Vitamin là không ổn, nhưng thừa Vitamin cũng không hay

Thế mới biết, hóa ra chỉ là việc bổ sung Vitamin thôi cũng tiềm ẩn những rủi ro. Mặc dù vậy, có phải điều này đồng nghĩa với việc chúng ta nên tránh xa những sản phẩm bổ sung Vitamin và khoáng chất? Câu trả lời là “không”. Thực tế, không phải ai cũng có thể luôn đảm bảo cho mình một chế độ dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng, vì thế chúng ta vẫn cần đến các sản phẩm bổ sung.

Một con dao có thể vô hại nếu chúng ta biết cách sử dụng chúng. Các Vitamin cũng vậy, việc chúng ta cần làm là học cách sử dụng các sản phẩm bổ sung này một cách thông minh, để tận dụng tối đa lợi ích mà chúng mang lại, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất hiện tượng thừa Vitamin có thể xảy ra. Trong bài viết này, Suckhoegiadinh365 sẽ giới thiệu về nhu cầu hàng ngày và làm sao để phòng tránh tình trạng thừa Vitamin.

Vitamin A

Còn được gọi là Retinol, là một trong những Vitamin tan trong chất béo quan trọng nhất. Sau khi được hấp thu vào cơ thể, Retinol được vận chuyển đến gan, sau đó sẽ được dự trữ dưới dạng các ester, hoặc được tái vận chuyển vào huyết tương và gắn vào các Protein mang, để đưa đến các mô.

Chế độ ăn thường cung cấp Vitamin A dạng tiền chất (các Retinyl ester), có trong thực phẩm nguồn gốc động vật như gan, sữa, thận, dầu cá hoặc dưới dạng tiền Vitamin A (các Carotenoid) có trong cà rốt, khoai lang ruột đỏ, quả gấc, đu đủ,…

Các thuốc bổ sung Vitamin A thường chứa 10.000-50.000 đơn vị quốc tế (IU) trong mỗi viên nang mềm. Dầu gan cá có thể chứa hơn 180.000 IU/g. Liều độc cấp tính của Vitamin A là 25.000 IU/kg cân nặng, và liều độc mạn tính là 4.000 IU/kg mỗi ngày, kéo dài trong 6-15 tháng.

Tuy nhiên đó chỉ là đối với các sản phẩm chứa Vitamin A dạng hoạt động, còn các tiền Vitamin A, hay các Carotenoid, sẽ được cơ thể chuyển dần sang Vitamin A sau khi hấp thu, nhưng quá trình này được kiểm soát nhờ cơ chế điều hòa của cơ thể. Vì vậy, bổ sung Vitamin A từ thực phẩm có nguồn gốc thực vật được xem là an toàn, không gây ngộ độc cấp tính.

Thiếu hay thừa Vitamin A thì đều ảnh hưởng đến đôi mắt

Vitamin A dễ bị thiếu, nhưng không được thừa

Nhu cầu Vitamin A được tính theo lượng Vitamin A toàn phần và tất cả những nhóm chất có hoạt tính tương tự Vitamin A. Dưới đây là lượng tiêu thụ Vitamin A hàng ngày được khuyến nghị:

Nam (> 14 tuổi): 900 mcg

Nữ (> 14 tuổi): 700 mcg

Phụ nữ mang thai (14-18 tuổi): 750 mcg

Phụ nữ mang thai (19-50 tuổi): 770 mcg

Phụ nữ cho con bú (14-18 tuổi): 1.200 mcg

Phụ nữ cho con bú (19-50 tuổi): 1.300 mcg

Đối với trẻ em:

0-6 tháng tuổi: 400 mcg

7-12 tháng tuổi: 500 mcg

1-3 tuổi: 300 mcg

4-8 tuổi: 400 mcg

9-13 tuổi: 600 mcg

Vitamin B1

Còn được gọi là Thiamine, được tìm thấy trong các loại thịt và gan động vật, nấm men, trứng, và các rau lá xanh. Sản phẩm bổ sung Thiamine thường chứa 50-500mg Vitamin cho mỗi viên.

Vitamin B1 là một yếu tố cần thiết cho chu trình Krebs, là một chu trình hô hấp tế bào, cung cấp năng lượng cho các hoạt động sống của cơ thể. Nhu cầu hàng ngày đối với Vitamin B1 là 1,5mg đối với trẻ em và người trưởng thành, và 0,7mg đối với trẻ từ 1-4 tuổi.

Vitamin B2

Nhu cầu Vitamini B2 (Riboflavin) hàng ngày là 1,7mg đối với trẻ em trên 4 tuổi và người lớn, và 0,8mg cho trẻ 1-4 tuổi. Các thuốc bổ sung thường chứa 25-100mg/viên.

Vitamin B3

Còn được gọi là Niacin, được tìm thấy trong các loại rau lá xanh, protein động vật, cá, gan động vật, và các loại đậu. Các sản phẩm bổ sung thường chứa 20-500mg mỗi viên.

Vitamin B3 là coenzyme của các phản ứng khử Hydro trong tế bào. Liều cao Vitamin B3 sẽ gây giảm tổng hợp LDL Cholesterol.

Nhu cầu Vitamin B3 hàng ngày là 20mg (với trẻ 1-4 tuổi là 9mg).

Vitamin B6

Vitamin B6 khá phổ biến, tuy nhiên nó dễ hấp thu cũng dễ thải trừ, ít gây thừaHay Pyridoxine, có nhiều trong thịt gia cầm, cá, thịt lợn, các loại ngũ cốc, và hạt họ đậu. Các sản phẩm bổ sung thường chứa 5-500mg mỗi viên nén.

Vitamin B6 đóng vai trò trong quá trình chuyển hóa Protein và các Amino acid.Pyridoxine thường được dùng kèm cho bệnh nhân điều trị lao bằng Isoniazid, hoặc dùng cho các vận động viên thể hình, và một số bệnh lý sau:

Rối loạn tiền mãn kinh

Bệnh tâm thần phân liệt

Tự kỷ trẻ em

Rối loạn tăng động giảm chú ý

Nhu cầu Vitamin B6 hàng ngày:

19-50 tuổi: 1,3mg

Nam trên 51 tuổi: 1,7 mg

Nữ trên 51 tuổi: 1,5 mg

Phụ nữ mang thai (19-50 tuổi): 1,9 mg

Phụ nữ cho con bú (19-50 tuổi): 2 mg

Đối với trẻ em, nhu cầu Vitamin B6 là:

Trẻ 0-6 tháng tuổi: 0,1 mg

7-12 tháng tuổi: 0,3 mg

1-3 tuổi: 0,5 mg

4-8 tuổi: 0,6 mg

9-13 tuổi: 1 mg

Nam 14-18 tuổi: 1,3 g

Nữ 14-18 tuổi: 1,2 mg

Phụ nữ mang thai (14-18 tuổi): 1,9 mg

Phụ nữ cho con bú (14-18 tuổi): 2 mg

Vitamin B12

Hay Cyanocobalamin, chứa nhiều trong sữa và các sản phẩm sữa, trứng, cá, thịt gia cầm, và thịt đỏ. Mỗi viên nén bổ sung thường chứa 25-250mcg Vitamin B12. Nó được sử dụng trong điều trị bệnh thiếu máu ác tính, và ngộ độc Cyanua (ví dụ như ngộ độc sắn).

Nhu cầu hàng ngày đối với Vitamin B12:

Trẻ em 0-6 tháng tuổi: 0,4 mcg

7-12 tháng tuổi: 0,5 mcg

1-3 tuổi: 0,9 mcg

4-8 tuổi: 1,2 mcg

9-13 tuổi: 1,8 mcg

Trên 14 tuổi: 2,4 mcg

Phụ nữ mang thai (trên 14 tuổi): 2,6 mcg

Phụ nữ cho con bú (trên 14 tuổi): 2,8 mcg

Vitamin C

Acid ascorbic hay Vitamin C được tìm thấy trong các loại quả họ cam chanh, kiwi, sơ ri, hay xoài và ổi, cũng chứa nhiều trong các loại rau xanh.

Nó là một chất chống oxy hóa, và được dùng như một thứ thuốc phối hợp trong điều trị các trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp trên, và thậm chí là các dạng ung thư. Mỗi viên nén thường chứa 100-2000 mg Vitamin C.

Nhu cầu Vitamin C mỗi ngày bao gồm:

Nam giới trên 19 tuổi: 90 mg

Nữ giới trên 19 tuổi: 75 mg

Phụ nữ có thai trên 19 tuổi: 85 mg

Phụ nữ cho con bú trên 19 tuổi: 120 mg

Nhu cầu Vitamin C sẽ tăng thêm 35 mg/ngày ở người hút thuốc lá.

Đối với trẻ em, nhu cầu Vitamin hàng ngày là:

Trẻ em 0-6 tháng tuổi: 40 mg

Trẻ em 7-12 tháng tuổi: 50 mg

1-3 tuổi: 15 mg

4-8 tuổi: 25 mg

9-13 tuổi: 45 mg

Nam (14-18 tuổi): 75 mg

Nữ (14-18 tuổi): 65 mg

Phụ nữ có thai (14-18 tuổi): 80 mg

Phụ nữ cho con bú (14-18 tuổi): 115 mg.

Vitamin D

Có mặt trong hầu hết các sản phẩm từ sữa, lòng đỏ trứng, gan và các loại cá. Vitamin D làm tăng Calci huyết bằng cách kích thích quá trình hấp thu Calci và huy động Calci từ xương. Mỗi viên nang thường chứa 400 IU.

Nhu cầu Vitamin D hàng ngày:

Trẻ em 0-12 tháng: 400 IU (10 mcg)

1-70 tuổi (bao gồm cả phụ nữ có thai và cho con bú): 600 IU (15 mcg)

Người già trên 70 tuổi: 800 IU (20 mcg)

Vitamin E

Vitamin E là thuật ngữ để chỉ một nhóm gồm khoảng 8 loại hợp chất tan trong dầu, có hoạt tính chống oxy hóa sinh học tương tự nhau, trong đó phổ biến nhất là Alpha-tocopherol và các dẫn chấn của nó.

Vitamin E được tìm thấy trong dầu thực vật, các loại hạt quả hạch, hạt hướng dương, lúa mỳ, rau lá xanh, và các loại cá. Vì là Vitamin tan trong dầu nên Vitamin E chỉ được hấp thu tối đa khi có mặt của dịch mật. 25% Vitamin được hấp thu qua đường uống, và được dự trữ tại các mô mỡ, gan, và cơ bắp.

Vitamin E có thể ức chế sự hấp thu Vitamin A và K khi dùng liều cao hơn 400 IU/ngày. Bổ sung tối đa 1.600 IU/ngày, và với liệu trình ngắn, hầu như không gây tác dụng phụ, tuy nhiên chưa có nghiên cứu rõ ràng về tác dụng phụ khi dùng liều 1.600 IU/ngày trong thời gian dài.

Nhu cầu Vitamin E hàng ngày:

Trên 14 tuổi: 15 mg

Phụ nữ có thai (trên 14 tuổi): 15 mg

Phụ nữ cho con bú (trên 14 tuổi): 19 mg

Đối với trẻ em:

0-6 tháng tuổi: 4 mg

7-12 tháng tuổi: 5 mg

1-3 tuổi: 6 mg

4-8 tuổi: 7 mg

9-13 tuổi: 11 mg

Vitamin K

Vitamin K có vai trò quan trọng cho quá trình đông máuVitamin K (hay Phytonadione) được sản xuất bởi các vi sinh vật trong ruột (Vitamin K2) và có trong các loại rau lá xanh, sữa bò, và dầu đậu nành (Vitamin K1). Các sản phẩm bổ sung Vitamin K1 thường chứa 2,5-10 mg. Vitamin K còn thúc đẩy sự tổng hợp các yếu tố đông máu II, VII, IX và X.

Nhu cầu Vitamin K hàng ngày:

Nam trên 19 tuổi: 120 mcg

Nữ trên 19 tuổi: 90 mcg

Phụ nữ mang thai và cho con bú (19-50 tuổi): 90 mcg

Đối với trẻ em:

0-6 tháng tuổi: 2 mcg

6-12 tháng tuổi: 2,5 mcg

1-3 tuổi: 30 mcg

4-8 tuổi: 55 mcg

9-13 tuổi: 60 mcg

14-18 tuổi (bao gồm cả phụ nữ có thai và cho con bú): 75 mcg

Acid folic

Acid folic cần thiết cho quá trình phát triển của thai nhiHay còn gọi là Vitamin B9, được tìm thấy trong các loại rau lá màu xanh, màu vàng cam, có tác dụng làm giảm nguy cơ khuyết tật ống thần kinh và nguy cơ bệnh động mạch vành ở thai nhi.

Vitamin B9 cũng được sử dụng trong việc điều trị ngộ độc rượu Mathanol do khả năng tăng cường thải trừ Formate (hay acid Formic – là sản phẩm chuyển hóa gây độc của rượu Methanol).

Nhu cầu Acid folic hàng ngày:

Trên 14 tuổi: 400 mcg

Phụ nữ có thai (14-50 tuổi): 600 mcg

Phụ nữ cho con bú (14-50 tuổi): 500 mcg

Đối với trẻ em:

0-6 tháng tuổi: 65 mcg

6-12 tháng tuổi: 80 mcg

1-3 tuổi: 150 mcg

4-8 tuổi: 200 mcg

9-13 tuổi: 300 mcg

Cơ chế gây ngộ độc khi dùng quá liều các Vitamin

Vitamin A: do khả năng tan trong dầu, Vitamin A được tích lũy trong cơ thể và gây độc. Sinh khả dụng của Retinol (Vitamin A dạng hoạt động) khoảng 80%, trong khi đó tiền Vitamin A (các Carotene) thấp hơn.

Trong khi có khả năng hấp thu Vitamin A rất tốt, cơ thể chúng ta lại khuyết thiếu khả năng thải trừ nó, do đó Vitamin A rất dễ bị tích lũy trong cơ thể. Nếu phụ nữ có thai dùng liều trên 10.000 IU/ngày trong 8 tuần đầu của thai kỳ, khả năng phát sinh dị tật thai nhi là rất lớn. Tuy nhiên Vitamin A lại là yếu tố tối quan trọng trong sự phát triển xương và mắt của trẻ.

Thừa Carotene trong máu là hệ quả của việc tiêu thụ quá nhiều cà rốt, vì loại củ này rất, rất giàu Beta carotene. Tuy nhiên, nó chỉ gây vàng da trong thời gian ngắn, và hầu như không gây tổn hại đến sức khỏe, và sẽ dần mất đi khi chúng ta ngưng tiêu thụ cà rốt và các thực phẩm giàu Carotene khác.

Các Vitamin nhóm B:

Vitamin B1 và B2 được coi là không có độc tínhVitamin B1 và B2 được xem là không có độc tính.

Vitamin B3 không có liều gây độc, nghĩa là không gây những tổn hại về sức khỏe. Mặc dù vậy, tác dụng phụ như ban đỏ trên da có thể xảy ra khi dùng liều 50 mg/ngày hoặc cao hơn. Liều điều trị có thể từ 1.500-6.000 mg/ngày, tuy nhiên có thể gây độc với gan ở những người đã có bệnh lý về gan trước đó.

Vitamin B6: liều 300-500 mg/ngày Vitamin B6 có thể gây độc cho hệ thần kinh, bệnh nhân có chức năng thận suy giảm sẽ nhạy cảm hơn. Chưa có nghiên cứu về liều độc cấp tính.

Vitamin B12: không xác định được liều độc, do nó rất dễ bị thải trừ nếu thừa.

Vitamin C:

Thừa Vitamin C có nguy cơ gây sỏi thậnLiều gây độc cấp tính của Vitamin C chưa được xác định, chủ yếu bởi liều gây độc cấp tính là rất lớn. Vitamin C có tính acid khá cao nên sẽ gây ảnh hưởng đến dạ dày. Vitamin C gây độc mạn tính với liều trên 2g/ngày, dùng trên 2 tuần.

Vitamin D: Liều gây độc cấp tính cũng chưa được xác định.

Gây độc mạn tính khi dùng trên 50.000 IU/ngày với người lớn. Ở trẻ dưới 6 tháng tuổi, 1.000 IU/ngày đã bị coi là không an toàn. Tuy nhiên, bởi cơ thể có cơ chế tự động điều hòa hấp thu Vitamin D, vì vậy độc tính có thể xảy ra chậm hơn.

Vitamin E:

Vitamin E tan trong dầu nên cũng có nguy cơ thừa caoVì tác dụng ngược với Vitamin K nên liều cao Vitamin E làm tăng nhu cầu Vitamin K của cơ thể. Thiếu Vitamin K có thể gây chảy máu, máu khó đông. Việc sử dụng đồng thời Vitamin E với thuốc chống đông máu có thể làm tăng nguy cơ chảy máu.

Liều 1.600 IU/ngày với Vitamin E làm giảm sản xuất Thromboxan tiểu cầu (một yếu tố đông máu). Quá thừa Vitamin E có thể làm giảm đáp ứng với thuốc bổ sung sắt ở trẻ em bị thiếu máu do thiếu sắt.

Dùng chung Vitamin E với Wafarin hoặc Aspirin (2 loại thuốc chống đông máu) có thể gây xuất huyết, chảy máu chân răng.

Vitamin K: chưa có nghiên cứu về liều độc, tuy nhiên các sản phẩm bổ sung Vitamin K3 đã bị cấm bởi cơ quan quản lý Thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) do độc tính cao của chúng.

Acid folic: nói chung acid folic là không độc. Tuy nhiên, liều trên 5.000 mcg/ngày có thể làm mờ các triệu chứng của bệnh thiếu máu ác tính, dẫn đến sai lầm trong chẩn đoán.

Tham khảo tại: https://emedicine.medscape.com/article/819426-overview#a1

Xem thêm: Tại sao cần bổ sung Vitamin cho trẻ

Bài viết liên quan:

Thừa Vitamin D: vấn đề cần được lưu tâm

Thừa Vitamin A: nguyên nhân, nguy cơ và phòng tránh

5 loại Vitamin và khoáng chất trẻ thường bị thiếu

 

Tags: , , ,